Bùng nổ kênh TPDN: Lãi suất trung bình 8,8%/năm, nhóm BĐS chi trả cao nhất – hơn 10%/năm



--

Tổng lượng trái phiếu bất động sản phát hành năm 2019 là 106.5 nghìn tỷ đồng, chiếm 38% tổng ban hành toàn thị trường và chỉ xếp sau nhóm ngân hàng. Kỳ hạn trung bình của tập thể nhóm này là 3,7 năm và lãi suất trung bình là 10,3%/năm – đỉnh cao thị trường nếu loại trừ lô phát hành của Hồng Hoàng.

Về bình quân gia quyền theo giá trị ban hành năm 2019, lãi suất trái phiếu trung bình toàn thị trường là 8,8%/năm và kỳ hạn trái phiếu trung bình là 4,04 năm. Lãi suất và kỳ hạn đều nhích tăng trong quý cuối năm phần nhiều do các NHTM gia tăng phát hành trái phiếu kỳ hạn dài và lãi suất cũng cao hơn, ghi nhận bởi SSI Research.

Nhóm ngân hàng có lãi suất thấp nhất (7,04%), trái lại nhóm BĐS đỉnh cao với 10,3%/năm

Có 51,3% trái phiếu ban hành có lãi suất cố định, tập trung chủ đạo vào các trái phiếu kỳ hạn 2-3 năm của group NHTM, trả lãi định kỳ hàng năm. 48,7% trái phiếu còn lại có lãi suất thả nổi, chủ yếu là trái phiếu các doanh nghiệp BĐS và trái phiếu ngân hàng kỳ hạn từ 5 năm trở lên.

Nhóm trái phiếu ngân hàng có lãi suất trung bình thấp nhất (7,04%/năm), nhóm có lãi suất trung bình đỉnh cao là BĐS (10,3%/năm). Nhóm các doanh nghiệp khác có lãi suất bình quân cao ngang bằng nhóm BĐS chủ yếu là do lô phát hành 1.402 tỷ đồng trái phiếu 5 năm với lãi suất 20% của CTCP Đầu tư Thương mại Hồng Hoàng. Nếu loại trừ khoản này, lãi suất trung bình của group các doanh nghiệp khác chỉ là 9,86%/năm.

Ngoài lô trái phiếu lãi suất cao bất thường kể trên, có 3 lô phát hành của BĐS Phát Đạt (PDR) và 2 lô ban hành của Công ty TNHH MTV Đầu tư và Phát triển Gia Cư có lãi suất trên 13%/năm – đều là các doanh nghiệp BĐS. Công ty Đầu tư Kinh doanh BĐS Star Beach chào bán 150 tỷ đồng trái phiếu 24 tháng, lãi suất tới 18%/năm nhưng không có bên nào mua cho thấy thị trường cũng có thể có chọn lọc, không hẳn chỉ nhìn vào lãi suất.

Ngoại trừ nhóm trái phiếu ngân hàng, đa số các trái phiếu nằm ở phía trong khoảng lãi suất 10-11%/năm, nghĩa là cao hơn lãi suất tiền gửi từ 3-4%/năm. Mức này cũng ngang bằng lãi suất cho vay trung và dài hạn đang là 9-11%/năm (theo thông tin từ NHNN).

Kỳ hạn trái phiếu trung bình dài nhất (7,3 năm) thuộc về nhóm phát triển hạ tầng và các doanh nghiệp năng lượng, khoáng sản – thích phù hợp với thuộc tính dài hạn của các dự án đầu tư mà những doanh nghiệp này thực hiện. Nhóm phát hành trái phiếu kỳ hạn ngắn nhiều nhất là các công ty chứng khoán, chủ đạo là chỉ từ 1-2 năm. Cá biệt có 2 lô ban hành với tổng giá trị là 104 tỷ của VNDirect là có kỳ hạn lên tới 10 năm.

Bùng nổ kênh TPDN: Lãi suất trung bình 8,8%/năm, nhóm BĐS chi trả cao nhất – hơn 10%/năm - Ảnh 1.

Nhóm NHTM: BIDV đứng đầu kêu gọi trái phiếu với 18.371 tỷ đồng, kỳ hạn 6-15 năm

Có 19 NHTM có phát hành trái phiếu trong năm 2019 trong đó có 12 NHTM niêm yết và 7 NHTM chưa niêm yết. Các NHTM chào bán 117.130 tỷ đồng trái phiếu và ban hành được 115.022 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ thành công là 98,2%. Kỳ hạn bình quân là 4,1 năm và lãi suất bình quân là 7,04%/năm – là nhóm có lãi suất trái phiếu thấp nhất thị trường.

Ngoại trừ BIDV và Vietinbank có các đợt chào bán ra sức chúng trong nước và VPB thi hành chào bán trái phiếu quốc tế, đa số các NHTM đều phát hành dưới hình thức riêng lẻ.

Có 11/19 ngân hàng có ban hành trái phiếu kỳ hạn dài trên 5 năm trong đấy nhiều nhất là BIDV (BID), Vietinbank (CTG), Seabank (SEA), Lienvietpost bank (LVP). Lãi suất các khoản trái phiếu kỳ hạn dài đều trội hơn hẳn, ở mức 7,5-8,5%/năm.

Bùng nổ kênh TPDN: Lãi suất trung bình 8,8%/năm, nhóm BĐS chi trả cao nhất – hơn 10%/năm - Ảnh 2.

Quán quân ban hành tối đa thuộc về BIDV với tổng cộng 18.371 tỷ đồng trái phiếu được phát hành các kỳ hạn từ 6-15 năm trong đấy 45,7% là trái phiếu kỳ hạn 6 năm nhưng có kèm theo cam kết mua lại sau một năm lưu hành. Vietinbank cũng ban hành 5.500 tỷ đồng trái phiếu các kỳ hạn 7-15 năm chủ yếu dưới hình thức ban hành ra sức chúng. Có thể thấy, yêu cầu đáp ứng các tiêu chí Basel II và thông tư 41 khiến nhiều NHTM phải đẩy mạnh ban hành trái phiếu kỳ hạn dài để tăng vốn cấp 2, cải thiện hệ số CAR.

Có 81.360 tỷ đồng trái phiếu, tương đương 70,7% tổng lượng ban hành của các ngân hàng có kỳ hạn từ 3 năm đi xuống với lãi suất chủ đạo là dưới 7%/năm. Việc ban hành các trái phiếu kỳ hạn 2-3 năm cũng đều có thể giúp các ngân hàng giảm được tỷ suất vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, tuy nhiên các kỳ hạn dài thường phải có lãi suất cao hơn kỳ hạn ngắn nhưng thực tiễn hầu hết trái phiếu kỳ hạn 2-3 năm này lại có lãi suất thấp hơn. Ví dụ trái phiếu SHB có kỳ hạn trung bình 2,23 năm và lãi suất trung bình 6,85%, thấp hơn lãi suất để dành kỳ hạn 1 năm là 7%.

Các CTCK mua 31.500 tỷ đồng, chiếm khoảng 40% lượng ban hành các kỳ hạn 3 năm trở xuống. Nhiều lô ban hành chỉ ghi bên mua chung chung là “tổ chức trong nước”. Lượng mua đây là rất lớn nên ngoài các định chế tài chính thì khó có đơn vị nào có đủ năng lực để tham dự (tính đến 30/9/2019, tổng ngân sách chủ sở hữu của các CTCK tại Việt Nam chỉ là 77.800 tỷ đồng).

Nhà đầu tư cá nhân chỉ mua các trái phiếu 6-10 năm của BID, CTG, SEA và TPB với tổng giá trị 12.084 tỷ, lãi suất dao động từ 8-9.5% (có lãi suất thả nổi), một khoảng lãi suất hợp lý tương ứng với kỳ hạn dài.

Bùng nổ kênh TPDN: Lãi suất trung bình 8,8%/năm, nhóm BĐS chi trả cao nhất – hơn 10%/năm - Ảnh 3.

Nhóm BĐS: Lãi suất cao thu hút nhà đầu tư cá nhân với mức giá trị mua vào 11.000 tỷ đồng

Tổng lượng trái phiếu bất động sản ban hành năm 2019 là 106.5 nghìn tỷ đồng, chiếm 38% tổng phát hành toàn thị trường và chỉ xếp sau nhóm ngân hàng (một số lô phát hành của các tổ chức đa ngành nghề nhưng mục tiêu sử dụng vốn dĩ là đầu tư BĐS nên vẫn được SSI Research xếp vào nhóm này). Kỳ hạn trung bình của group này là 3,7 năm và lãi suất trung bình là 10,3%/năm – đỉnh cao thị trường nếu loại trừ lô phát hành của Hồng Hoàng.

Bùng nổ kênh TPDN: Lãi suất trung bình 8,8%/năm, nhóm BĐS chi trả cao nhất – hơn 10%/năm - Ảnh 4.

Bùng nổ kênh TPDN: Lãi suất trung bình 8,8%/năm, nhóm BĐS chi trả cao nhất – hơn 10%/năm - Ảnh 5.

Bùng nổ kênh TPDN: Lãi suất trung bình 8,8%/năm, nhóm BĐS chi trả cao nhất – hơn 10%/năm - Ảnh 6.

Nhà đầu tư cá nhân mua gần 11 nghìn tỷ đồng trái phiếu BĐS, còn lại là các nhà đầu tư tổ chức. Trong đó các NHTM mua 19,1 nghìn tỷ đồng, các CTCK mua 4,4 nghìn tỷ đồng, tổ chức quốc tế mua 1,66 nghìn tỷ đồng các trái phiếu của KDH, PDR, DXG. Còn lại được ghi chung chung dưới tên là “tổ chức trong nước” hoặc thiếu thông tin cụ thể.

NHNN đang định hướng giảm tín dụng vào lĩnh vực bất động sản thông qua điều chỉnh hệ số không may để tính chỉ số CAR tại thông tư 22/2019/TT-NHNN nên kênh trái phiếu tất yếu sẽ có các doanh nghiệp BĐS tìm đến. Trái phiếu bất động sản thời gian tới sẽ vẫn nở rộ vì lãi suất hấp dẫn, kỳ trả lãi ngắn và nhu cầu phát hành cao.

Tuy vậy, doanh số luôn đi kèm với không may nên cần sự tăng cường quan sát từ những bộ phận quản lý để đảm bảo sự tiến lên bền vững của thị trường.

Bùng nổ kênh TPDN: Lãi suất trung bình 8,8%/năm, nhóm BĐS chi trả cao nhất – hơn 10%/năm - Ảnh 7.

Bảo An

Theo Trí thức trẻ

Sưu Tầm: Internet – Tạp chí bất động sản: TopVn

Bài Viết Liên Quan


Bài Viết Khác

--